“Thời niên thiếu tôi sớm nếm trải nhiều nỗi lo toan, nhiều điều bất hạnh. Tôi không oán trách số phận đã dành cho mình những điều không may mắn ấy. Bởi chính nó đã giúp tôi sớm hiểu được thế nào là sức mạnh của ý chí sắt đá và nghị lực kiên cường...”
Viện Dubna
Khác với những người trung bình chủ nghĩa ưa chọn các đề tài dễ dãi hoặc "thường thường bậc trung" để nghiên cứu, viết luận án, Nguyễn Văn Hiệu luôn đi tiên phong, hăm hở lao vào giải quyết những vấn đề nóng bỏng nhất, gai góc nhất nhưng cơ bản nhất của vật lý học hiện đại để khám phá, sáng tạo ra cái mới, cái chưa ai từng khám phá thành công. Chính vì vậy, năm 1981, cùng một số cộng sự ở Liên Xô (cũ), ông mới được cấp Bằng Phát minh số 228 và sau đó, năm 1986, được tặng Giải thưởng Lênin về khoa học - kỹ thuật. Năm 1996, ông được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về khoa học Toán - Lý.
I. Thuở thiếu thời đầy gian truân
Tôi còn nhớ vào một ngày cách đây đã 28 năm, trong một gian phòng nhỏ giữa phố Thợ Nhuộm, một phố xưa của Thăng Long, Hà Nội có hai hàng bằng lăng đón chào mùa hạ bằng những vòm hoa tím sáng, bác Nguyễn Văn Nguyện, mái tóc bạc phơ, khuôn mặt đôn hậu, phụ thân của anh Nguyễn Văn Hiệu, thân mật tiếp chuyện tôi. Bác đã nuôi dạy mười người con thành đạt trong đó anh Hiệu là con đầu lòng.
Qua hai cuộc kháng chiến, tản cư thời chống Pháp, sơ tán thời chống Mỹ, nhiều vật lưu niệm quý đã thất lạc tứ tung, giờ bác Nguyện chỉ còn giữ được một tấm ảnh chụp từ hồi đầu Cách mạng Tháng Tám.
Làng Cầu Đơ, quê hương bác Nguyện, nay thuộc tỉnh Hà Tây, ở quãng từ cầu xi-măng sông Nhuệ ngược Ba La - Bông Đỏ. "Chết còn hơn nô lệ!" một dòng biểu ngữ cắt ngang gian đình làng. Dưới dòng biểu ngữ ấy, là tấm ảnh các chiến sĩ tự vệ, kẻ đứng người ngồi thành hai hàng sau trước, vẻ mặt trang nghiêm, mũ ca-nô đính sao vuông đội lệch, quần soóc, áo sơ-mi cộc tay. Đó chính là những anh tự vệ đã đi đầu chiếm trại bảo an binh thị xã Hà Đông. Người ngồi chếch mé phải, đấy là bác Nguyện, lúc bấy giờ tuổi mới ngoài ba mươi, giữ chức Uỷ viên Uỷ ban Hành chính thị xã, phụ trách tự vệ.
Mấy chục năm đã trôi qua, tấm ảnh đã ngả màu.
“Gần một nửa số tự vệ trong tấm ảnh này” - bác Nguyện trầm ngâm nói - “đã hy sinh ngay trong những ngày đầu nổ súng chống Pháp. Anh em giữ trọn lời thề. Người dân làng tôi tự tay châm lửa đốt nhà mình để thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Lúc bấy giờ tôi đã có sáu con.”
Tiếng súng cứu nước nổ rền giữa năm Nguyễn Văn Hiệu tám tuổi, đang học dở dang lớp dự bị (tương đương lớp 2 hiện nay). Bố thoát ly gia đình lên Việt Bắc công tác. Cậu bé Hiệu cùng năm em nhỏ dắt díu nhau lánh sang huyện Mỹ Đức, rồi huyện Ứng Hoà, vào mạn bến Đục, chùa Hương. Tháng 3 năm 1947, trong một trận càn, cậu bé khiếp hãi trông thấy bọn lính lê dương xả súng bắn chết mấy chục người dân thường bên con đê, máu đỏ loang vệ cỏ.
Hai lần phải bỏ học vì nhà quá nghèo
Sau này, khi đã trở thành một nhà vật lý nổi tiếng thế giới, được tặng Giải thưởng Lênin về Khoa học - Kỹ thuật vào năm 1986, Nguyễn Văn Hiệu cảm động kể về thuở thiếu thời đầy gian truân của mình:
"Những nỗi buồn vui, những kỷ niệm của thời niên thiều là điều ta thường hồi tưởng khi đã trưởng thành. Mỗi lần trong cuộc đời khoa học của tôi có một sự kiện gì đặc biệt, bao giờ tôi cũng nhớ lại hai lần tôi phải bỏ học khi mới hơn mười tuổi vì nhà quá nghèo!
Năm 1948, năm tôi tốt nghiệp tiểu học, cả tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây) lúc đó chỉ có một trường tiểu học là Trường Nguyễn Huệ ở huyện Mỹ Đức. Cha tôi đi công tác xa, ở một cơ quan thuộc Liên khu Ba. Mẹ tôi và bảy người con, mà tôi là con lớn nhất, tản cư đến làng Đào Xá ở phía nam huyện Ứng Hoà. Trường trung học Nguyễn Huệ ở quá xa. Không có tiền trọ lại, tôi đành bỏ học. Tuy mới lên mười, nhưng tôi đã phải kéo sợi, tết dải rút, kiếm tiền giúp mẹ chút ít.
Một năm sau, cơ quan cha tôi chuyển vào làng Lam Vĩ, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Bên kia con sông Chu là làng Ngò, nơi có Trường trung học Nguyễn Thượng Hiền. Cha tôi đón tôi và ba em lớn của tôi về làng Lam Vĩ. Tôi và ba em vừa kéo sợi, vừa qua sông theo học Trường Nguyễn Thượng Hiền. Một năm sau, khi tôi vừa học xong lớp 5 (lớp 7 hiện nay), cha tôi lại được điều động ra công tác tại một vùng thuộc Liên khu Ba. Mấy anh em tôi phải quay về sống với mẹ tại thị trấn Rừng Thông (Thanh Hoá). Thế là lần thứ hai tôi phải bỏ học, ở nhà kéo sợi, xe chỉ tơ, giúp mẹ nuôi em...".
"Một lần đi hái lá sim trên triền núi Mật mang về băm nhỏ, nấu lên lấy nước nhuộm tím chỉ tơ” - anh Hiệu kể tiếp - “tôi vô ý băm đứt một đốt ngón tay trỏ bên trái, mãi mới cầm được máu. Từ đấy tôi mang tật suốt đời, một ngón tay hơi ngắn! Lúc bấy giờ là vào năm 1951, tôi mới 13 tuổi...
Tôi vô cùng ao ước được tiếp tục học lên. Khi các bạn cũ hồi lớp 5, trọ ở làng Ngò theo học Trường Nguyễn Thượng Hiền, vào ngày chủ nhật trở về nhà, các bạn ấy đi ngang qua nhà tôi ở Rừng Thông, tôi liền khẩn khoản mượn vở của các bạn, vội vã chép lại bài về một số môn chính để mày mò tự học theo chương trinh lớp 6 (lớp 8 hiện nay).
Năm 1952, một số thầy giáo tản cư về Rừng Thông đứng ra mở Trường cấp II Dân lập Tống Duy Tân ở làng Sơn Viện. Do đã chịu khó tự học xong chương trình lớp 6, tôi mạnh dạn thi vào lớp 7 và trúng tuyển. Nhờ trường cách nhà không xa, tôi lại được tiếp tục cắp sách đến trường. Được tiếp tục học lên, tôi sung sướng vô cùng, say sưa "dùi mài" tất cả các môn, từ Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ đến Toán, Lý, Hoá, Sinh. Thấy giáo môn nào cũng yêu tôi...
Nhưng chẳng bao lâu sau, cha tôi lăn ra ốm. Thực hiện chính sách "giản chính", cơ quan cho cha tôi thôi việc! Mẹ tôi sinh đứa con thứ tám! Gia đình quá gieo neo... Đau đớn vô cùng, tôi đành gạt nước mắt viết đơn xin thôi học lần thứ ba!
May mắn thay, các thầy quá thương tôi! Nhà trường cử người đến an ủi cha mẹ tôi và cho biết: Từ ngày hôm ấy, tôi chẳng những không phải nộp học phí, mà còn được trao học bổng mặc dù Trường Tống Duy Tân là một trường tư.
Xúc động trước sự yêu thương đùm bọc của trường, tôi và các em lớn của tôi càng ra sức kéo sợi, xe chỉ tơ, kiếm thêm tiền để bù vào chỗ cha tôi mất việc, đủ cơm ngày hai bữa độn khoai, tiếp tục học hết cấp II.
Những tưởng đến đây là không còn hy vọng học lên. Nào ngờ, chẳng bao lâu sau, các nhà trí thức ở thị xã Thanh Hoá mở Trường cấp III dân lập Đào Đức Thông ở gần nhà tôi. Thế là tôi lại được học tiếp...".
Cũng như gia đình Nguyễn Văn Hiệu, biết bao gia đình rời thành phố bị địch tạm chiếm, tản cư ra vùng tự do, đã phải sống gian nan như thế, nhưng vẫn son sắt một lòng đi theo Cụ Hồ, theo kháng chiến. Cửa nhà nơi quê hương bản quán tự tay thiêu cháy ra tro. Chút vốn liếng ít ỏi khăn gói mang theo cạn dần theo năm tháng. Ăn bữa hôm, lo chạy bữa mai, nhưng vẫn không nản lòng thoái chí, không để mất niềm tin vào ngày Hà Nôi rợp cờ hoa, "Trùng trùng quân đi như sóng/Lớp lớp đoàn quân tiến về...".
"Thời niên thiếu - GS Nguyễn Văn Hiệu nói - “tôi đã sớm nếm trải nhiều nỗi lo toan, nhiều điều bất hạnh. Nhưng tôi không oán trách số phận đã dành cho mình những điều không may mắn ấy. Bởi vì chính nó đã giúp tôi sớm hiểu được thế nào là sức mạnh của ý chí sắt đá và nghị lực kiên cường. Sau này, đọc Nhật ký trong tù của Bác, tôi càng thấm thía:
“Gạo đem vào giã, bao đau đớn
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông.
Sống ở trên đời, người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.”
Thật hiếm thấy những nhà bác học nào mà cuộc đời quá ư êm xuôi, suôn sẻ! Tôi chỉ muốn nhắn nhủ các bạn trẻ: Nếu các bạn gặp khó khăn, trắc trở trên đường đời thì đừng bao giờ vội nản lòng thoái chí".
II. Tuổi thanh xuân nhiều mộng ước
18 tuổi, Nguyễn Văn Hiệu bước lên bục giảng đại học. Trước mỗi buổi lên lớp, anh thường chong đèn thâu đêm ngồi học lại thật cặn kẽ, chi li từng phần mình vừa được học vào năm trước, lại còn phải tự học thêm rất nhiều kiến thức cơ sở…
18 tuổi bước lên bục giảng đại học
Nhớ lại những tháng năm đại học, GS Nguyễn Văn Hiệu nói: "Hà Nội rợp cờ hoa giải phóng, tôi vào Trường Đại học Sư phạm. Lần đầu tiên trong đời, tôi có thời gian đánh bóng chuyền, tập đàn ghi-ta, ca hát. Nhu cầu về ăn, ở được nhà trường bảo đảm.
Năm tháng như có cánh bay đi. Ngày thi tốt nghiệp gần tới. Thật náo nức lạ thường! Trong trí tưởng tượng của tuổi 18, tôi hình dung ra cảnh mình sẽ về dạy vật lý tại một trường cấp 3 ở một huyện xa. Tôi muốn làm sao trở thành một giáo viên vật lý thật giỏi, giảng bài thật lôi cuốn, làm sao tất cả các em học sinh thân yêu của tôi đều mê môn vật lý. Thiếu tài liệu tiếng Việt để đọc thêm, tôi cố gắng học ngoại ngữ để đọc sách bằng tiếng nước ngoài. Hằng ngày, tôi cuốc bộ từ ký túc xá đến lớp mất gần một tiếng đồng hồ vì chặng đường khá xa. Đó là quãng thời gian tốt nhất để tôi vừa đi vừa lẩm nhẩm học thuộc từ ngữ, lúc thì tiếng Nga, khi thì tiếng Pháp, tiếng Anh."
Nguyễn Văn Hiệu thành thật kể lại ước mơ khiêm tốn của mình thời sinh viên. Anh nghĩ, chưa phải thế hệ anh, mà phải chờ đến các thế hệ học trò của anh, mới xuất hiện những nhà vật lý Việt Nam có tầm cỡ. Anh vui lòng làm cái công việc của người gieo hạt để đến mùa sau, các thế hệ đàn em gặt hái.
Nhưng một niềm vui bất ngờ đến với anh! Với kết quả tốt nghiệp hạng ưu, anh được giữ lại làm trợ giảng tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường vừa khai giảng khoá 1 đầu mùa thu năm 1956.
Kể ra thì từ đời nhà Lý, ở nước ta, đã có trường đại học. Ngày nay, trong khu vườn yên tĩnh ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trên mặt những tấm bia đá xám đã bị thời gian mài mòn, ta vẫn còn đọc được họ tên bao vị tiến sĩ thời xa. Nhưng phải đến mùa thu 1956, nước ta mới có trường đại học tổng hợp đầu tiên với cơ cấu các khoa và bộ môn theo mô hình hiện đại, đặc biệt là về các ngành khoa học tự nhiên. Tất nhiên, ta cũng kế thừa một phần di sản của Đại học Đông Dương được lập ra từ năm 1906 thời thuộc Pháp.
18 tuổi, Nguyễn Văn Hiệu bước lên bục giảng đại học, ngỡ ngàng, lúng túng biết bao!
Những kiến thức trong chương trình đại học sư phạm ba năm mà khoá các anh được học "cấp tốc" chỉ trong hai năm, quả là quá ít! Trước mỗi buổi lên lớp, anh thường chong đèn thâu đêm ngồi học lại thật cặn kẽ, chi li từng phần mình vừa được học vào năm trước, lại còn phải tự học thêm rất nhiều kiến thức cơ sở. Anh vạch ra một chương trình bổ túc kiến thức về toán và vật lý lý thuyết để tự mình lặng lẽ thực hiện trong khoảng 4-5 năm, với hy vọng, sau thời gian đó, có thể đủ sức bắt đầu nghiên cứu các vấn đề vật lý hiện đại.
"Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu!"
Đầu năm 1958, tại giảng đường Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, giáo sư Tạ Quang Bửu thuyết trình về phát minh của Lý Chính Đạo (Tsung-Dao Lee) và Dương Chấn Ninh (Chen Ning Yang), hai nhà bác học người Mỹ gốc Trung Quốc vừa được tặng Giải thưởng Nobel cuối năm 1957 về Sự không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu. Thành công của Lý, Dương và Ngô chứng tỏ bộ óc của "dân da vàng" hoàn toàn có thể vươn tới những phát minh hiện đại, đỉnh cao của trí tuệ con người, miễn là họ được làm việc trong môi trường khoa học tiên tiến nhất. Khi sang Stockholm nhận Giải thưởng Nobel, Lý mới 31 tuổi, còn Dương mới 35.
Buổi thuyết trình của GS Tạ Quang Bửu mang lại cho anh Hiệu một niềm hứng thú vô biên mặc dù, vào thời điểm đó, anh chưa thật hiểu nội dung sâu xa của khám phá tinh tế nói trên.
Không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu có nghĩa là không gian không luôn luôn đối xứng qua gương! Tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian bị thách thức? Một khám phá làm đảo lộn suy nghĩ bình thường của con người mà ta quen gọi là... lương tri! Có lẽ nào lương tri cũng phạm... sai lầm?
Trong bốn tương tác (hay còn gọi là bốn lực) của tự nhiên là tương tác mạnh, tương tác yếu, tơng tác điện từ và tương tác hấp dẫn thì, sau phát minh của Lý, Dương và Ngô, tương tác yếu bỗng trở thành "thời thượng", đến mức một nhà vật lý trẻ tài ba đã "tuyên bố" một câu "xanh rờn": "Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu!"
Anh Hiệu cảm thấy câu nói ấy không xa lạ với mình...
Vật lý học quả là ngành khoa học đi sâu nhất vào cấu trúc vật chất, tìm ra nguyên nhân sâu xa của mọi hiện tượng tự nhiên và thiết lập những hệ thức giữa các hiện tượng ấy. Mọi quá trình vật lý đều là hệ quả của những quá trình cơ bản diễn ra bên trong các nguyên tử. Mọi hiện tượng vật lý cụ thể, muôn hình muôn vẻ đều được suy ra từ một số định luật cơ bản trong cấu trúc vi mô của vật chất.
Sứ mạng của các nhà vật lý lý thuyết là khám phá ra những định luật cơ bản ấy. Và, rất có thể, thế hệ các nhà vật lý thế kỷ 20 và 21 trong đó có anh Hiệu là những người may mắn được thu hái bao hoa thơm quả ngọt từ vườn cây do bao thế hệ các nhà vật lý lớp trước "cày sâu cuốc bẫm" gieo trồng! Nhân loại đang đứng trước ngưỡng cửa bao phát minh kỳ diệu mới...Mộng mơ thì to tát đấy! Nhưng "lực bất tòng tâm"!
Đến thành phố khoa học bên dòng Volga
Sau hai năm dạy học tại trường, Nguyễn Văn Hiệu được biết nhà trường sắp cử một đoàn cán bộ trẻ đi thực tập, nâng cao trình độ ở Liên Xô. Và, trong bản danh sách dự kiến có tên anh. Nhưng, anh tự thấy còn bao nhiêu cuốn sách chuyên khảo chưa kịp đọc! Nếu sang Liên Xô, chỉ để ngồi đọc những cuốn sách mà mình có thể đọc ở trong nước, thì thật phí thời gian! Do vậy, anh xin tiếp tục ở lại trường, tự học thêm, chờ đến khi nào đủ kiến thức cần thiết, mới xin đi. Đó là một việc làm "ngược đời" vào cái thời buổi không ít người tìm cách "chen ngang" để sớm được ra nước ngoài!
Năm 1960, đúng vào lúc vừa hoàn thành chương trình tự học thêm do chính mình đề ra, qua sự giới thiệu của GS Tạ Quang Bửu, anh Hiệu được Uỷ ban Khoa học Nhà nước ta cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna - một thành phố khoa học nhỏ xinh bên dòng Volga xanh biếc, giữa cánh rừng thông thưa sáng và những khóm tử đinh hương nở đầy hoa tím, cách thủ đô Maxcơva hơn một giờ xe lửa...
41 năm sau vào mùa hè năm 2001, tác giả bài ký này mới có dịp may đến thăm Dubna, cùng đi với GS Nguyễn Văn Hiệu và GS Trần Thanh Vân.
III. Cuộc "sát hạch" đầu tiên
- Anh có ý định nghiên cứu về tương tác yếu, và muốn được tôi hướng dẫn viết luận án tiến sĩ?, GS M.A.Markov hỏi Nguyễn Văn Hiệu. - Vậy anh đã đọc cuốn Hyperon và K-meson của tôi chưa?
- Thưa giáo sư, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Nhưng, thú thật, có một số chỗ không sao hiểu rõ!
- Không hiểu rõ là... phải thôi! Bởi vì, những đề tài nghiên cứu về neutrino rất gần với thực nghiệm, có nội dung vật lý sinh động, nhiều chi tiết tinh vi, đòi hỏi phải có những hiểu biết rất cụ thể, chi li, không thể viết hết ra sách, mà một phần quan trọng chỉ có thể trực tiếp "truyền nghề"...
- Tôi sang đây mong được giáo sư chỉ dạy.
Đúng vậy, một bậc võ sư, đại hiệp làm sao có thể chỉ qua viết sách mà truyền thụ được hết các "ngón nghề", "kiếm pháp tuyệt chiêu" cho đám môn sinh, đệ tử.
Sau khi hỏi thêm anh Hiệu về những cuốn sách vật lý khác mà anh đã từng đọc kỹ, GS M.A.Markov, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, đưa cho anh một bài preprint (công trình đang chờ in tạp chí, có thể dịch là tiền ấn phẩm) mà ông vừa nhận được, để anh nghiền ngẫm rồi, sau đó thuyết trình trong xê-mi-na do ông phụ trách. Đấy là một công trình mới của Lý Chính Đạo và Dương Chấn Ninh nhằm giải quyết vấn đề hạt meson trung gian truyền tương tác của neutrino. GS Markov yêu cầu anh lặp lại các tính toán và thử lại một số công thức hơi lạ, để hiểu rõ cơ chế xuất hiện các công thức ấy.
Sau mấy tháng đọc rất kỹ công trình, tra cứu, suy nghĩ để hiểu thật cặn kẽ, anh Hiệu đã thuyết trình trong xê-mi-na, gãy gọn, chính xác, sáng tỏ.
Rất may, ngay từ khi còn là sinh viên năm thứ hai, anh đã chịu khó học tiếng Nga, sau đó, lại không ngừng học tiếp trong suốt bốn năm giảng dạy đại học tại Hà Nội, cho nên mặc dù mới "chân ướt chân ráo" tới Dubna, anh đã có thể nói chuyện thoải mái bằng tiếng Nga.
Sau khi nghe anh Hiệu thuyết trình, GS Markov tin cậy giao cho anh đề tài nghiên cứu. Năm ấy, anh 22 tuổi.
Không được phép bỏ lỡ thời cơ!
Khác với các vấn đề về vật lý neutrino của GS Markov với nội dung vật lý cụ thể, gắn liền với thực nghiệm, đòi hỏi phải có trực giác nhạy bén, các vấn đề nghiên cứu của VS N.N.Bogolyubov và GS A.A.Logunov thì lại đòi hỏi phải có năng lực trừu tượng hoá cao, áp dụng những công cụ toán học hiện đại nhất. Để dùng vào đề tài nghiên cứu vật lý của mình, VS Bogolyubov đã phải giải quyết hàng loạt vấn đề toán học mới, tìm ra nhiều định lý toán học mang tên ông.
Ở Dubna, được tham gia những cuộc tranh luận hết sức sôi nổi, với sự có mặt của nhiều nhà bác học Liên Xô và nước ngoài đến đây thuyết trình tại các xê-mi-na, anh Hiệu mới nhận ra rằng hướng nghiên cứu lý thuyết giải tích về tán xạ của VS Bogolyubov chính là hướng có triển vọng nhất, nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản nhất, cốt lõi nhất và khó khăn nhất của vật lý năng lượng cao. Chỉ tại Dubna, giữa một tập thể khoa học mạnh và không khí khoa học luôn sôi động, anh mới có điều kiện bắt đầu nghiên cứu các vấn đề đó. Nếu không bắt đầu ngay trong thời gian làm việc tại Dubna thì, sau này trở về nước, sẽ chẳng bao giờ còn có thể bắt đầu được nữa!
"Không được phép bỏ lỡ thời cơ!" - Nghĩ vậy, anh đến dự tất cả các buổi xê-mi-na của nhóm Logunov.
Ngoài việc hoàn thành các đề tài do GS Markov giao cho về tương tác yếu, anh dành thời gian đọc thêm các tài liệu mới về giải tích. Lúc đầu công việc tiến triển chậm, bởi vì tài liệu nào cũng rất khó, đọc đi đọc lại mãi, vẫn không sao hiểu được thấu đáo! Trong khi đó các công trình mới từ khắp nơi trên thế giới vẫn cứ tới tấp gửi về Dubna!
Nguyễn Văn Hiệu làm việc chẳng kể ngày đêm. Nhiều hôm, khi anh rời phòng thí nghiệm bước ra đường phố thì các cửa hàng ăn đã tắt đèn. Đành lững thững trở về phòng riêng của mình, ăn qua quýt dăm lát bánh mì phết bơ - món bơ anh vẫn đặt sẵn ngoài bậu cửa sổ mùa đông Nga nhìn ra cánh rừng thông thưa sáng, thay cho để trong tủ lạnh. Một mình ngồi uống tách trà đen pha đường nóng hổi, rồi anh khẽ khàng lên giường ngủ.
Không hề vắng mặt tại các buổi xê-mi-na của GS Logunov, anh chăm chú lắng nghe từng ý kiến, thích thú theo dõi các cuộc tranh luận nảy lửa.
Một lần, anh nghe GS Logunov nói với các cộng sự trẻ rằng ông cần dùng phương trình tái chuẩn hoá - do ông và Bogolyubov đề ra - để tính dạng tiệm cận trong biên độ tán xạ của điện động lực học lượng tử. Nắm bắt ý tưởng đó, trở về phòng làm việc của mình, anh Hiệu liền lấy giấy bút ra tính toán ngay. Vài hôm sau, anh mạnh dạn đến gõ cửa phòng giám đốc la-bô! Một thoáng bực mình vì không được báo trước, nhưng rồi Logunov bình tĩnh lại. Ông ngạc nhiên xem kỹ các tính toán của anh. Tất cả các cộng sự của ông chưa ai kịp tính xong!
Kết quả tính toán của Nguyễn Văn Hiệu phù hợp với tiên đoán của Logunov. Ông rất mừng và, từ hôm ấy có thiện cảm đặc biệt với anh. Ông tin cậy giao ngay cho anh một loạt công việc khác. Nguyễn Văn Hiệu bắt đầu trở thành đồng tác giả với Logunov trong hàng loạt công trình nổi tiếng. Sau này, khi đã được bầu làm Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Hiệu trưởng Đại học Lomonosov, GS A.A.Logunov xuất bản tuyển tập mà trong đó có nhiều công trình do Nguyễn Văn Hiệu là đồng tác giả.
Tính đến đầu năm 1963, nghiên cứu các tính chất của biên độ tán xạ ở vùng năng lượng cao, Nguyễn Văn Hiệu đã tìm ra hàng loạt định lý tiệm cận mới. Cũng đến thời điểm ấy, anh đã công bố 12 công trình về vật lý neutrino. Logunov gợi ý anh nên bỏ hẳn ra vài tuần, ngồi viết lại các kết quả đó cho mạch lạc, thành một bản luận án tiến sĩ, bảo vệ cho xong đi, để rồi, sau đó, không còn phải bận tâm nữa.
Tháng 3 năm 1963, Nguyễn Văn Hiệu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về vật lý neutrino, khi anh mới hơn 24 tuổi.
Không nghỉ một ngày, ngay sau khi bảo vệ "dứt điểm" luận án về tương tác yếu, Nguyễn Văn Hiệu dồn tất cả tinh lực và thời gian vào việc nghiên cứu các định lý tiệm cận với GS Logunov, chuyển hẳn sang một lĩnh vực mới và thế là, như lời thơ của Antokolsky, "tiến đến một giới hạn khác/ và lại đảo ngược các thế cờ"!
Tháng 7 năm 1963, anh được Viện Dubna cử đi dự Hội nghị Quốc tế Vật lý Hạt cơ bản tại Sienna để bảo vệ các định lý tiệm cận mà anh và Logunov vừa tìm ra. Đây là một thành phố cổ ở miền bắc Italy với nhiều ngôi nhà thờ xây bằng hoa cương, cẩm thạch. Rất may, trong mấy năm ở Dubna, anh luôn dành ra mỗi tuần vài buổi tối để tự học tiếng Anh, cho nên khi cần đi dự hội nghị quốc tế, thì vốn liếng tiếng Anh cũng tạm đủ dùng.
Sau khi nghe Nguyễn Văn Hiệu thuyết trình, GS Léon Van Hove, một nhà bác học lớn, Viện sĩ nhiều Viện Hàn lâm, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu, liền tới gặp riêng để trao đổi ý kiến với anh. Ít lâu sau, trong một bài giảng tại Trường mùa hè của Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế ở Trieste (Italy), ông ca ngợi những kết quả của nhóm Logunov - Nguyễn Văn Hiệu.
Tình bạn Nguyễn Văn Hiệu - Trần Thanh Vân
Cũng tại Sienna, lần đầu tiên Nguyễn Văn Hiệu gặp Trần Thanh Vân, lúc bấy giờ mới 26 tuổi (hơn anh Hiệu một tuổi), vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia về cấu trúc neutron tại Đại học Sư phạm Paris danh tiếng, nơi Hoàng Xuân Hãn, Phạm Duy Khiêm, Trần Đức Thảo, Lê Văn Thiêm đã từng theo học.
Tình bạn từ "thuở hàn vi" giữa hai nhà vật lý mang dòng máu Việt, nhiều thập niên sau, đã dẫn đến việc tổ chức thành công sáu lần Gặp gỡ Việt Nam về Vật lý Hạt và Vật lý Thiên văn tại Hà Nội và TPHCM, thu hút các nhà vật lý thuộc hơn 40 quốc tịch đến dự, kể cả một số nhà bác học đoạt Giải thưởng Nobel.
Trường Vật lý Việt Nam Mùa đông (với ba đồng giám đốc là GS Patrick Aurenche, GS Nguyễn Ái Việt, TS Nguyễn Anh Kỳ cùng sự cộng tác thường xuyên của GS Nguyễn Văn Liễn, PGS Nguyễn Mộng Giao) cũng được mở đều đặn hằng năm kể từ dạo ấy, lôi cuốn nhiều sinh viên cao học và nghiên cứu sinh không chỉ của Việt Nam, mà còn của Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước châu Á khác đến Huế, Nha Trang, Quy Nhơn, Vũng Tàu...
Sau Hội nghị Sienna năm 1963, Léon Van Hove nhiều lần mời Nguyễn Văn Hiệu sang làm việc với ông ở Geneva. Năm 1983, ông cũng là người nhiệt tình ủng hộ anh tham gia Uỷ ban Quốc tế Phát triển Máy gia tốc.
Nguyễn Văn Hiệu tiếp tục đứng ở đường biên tri thức vật lý của nhân loại văn minh, nơi giáp ranh giữa cái đã biết và cái chưa từng biết.
IV. Một sự kiện hiếm thấy ở Dubna
“Anh không ngồi chờ khoa học đến bố thí cho mình! Anh đã đạt được những kết quả khoa học khiến mọi người ngạc nhiên bằng cách làm việc rất nhiều, với năng lực lao động rất lớn…Tôi tin chắc, anh sẽ còn đóng góp được nhiều cho khoa học."
Vị tiến sĩ khoa học người Việt Nam trẻ nhất
Một buổi sáng đầu tháng 11 năm 1963, trước hôm kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, GS. A.A.Logunov nói với Nguyễn Văn Hiệu: "Kết quả nghiên cứu của anh đã đủ để viết luận án tiến sĩ khoa học. Lúc này các kết quả ấy còn đang nóng hổi, nên bảo vệ luận án ngay, để chậm sẽ bớt lý thú."
Như nhiều người đã biết, luận án tiến sĩ khoa học của Liên Xô có những đòi hỏi khác với luận án PhD (tiến sĩ) của Mỹ hay luận án docteur d'état (tiến sĩ quốc gia) của Pháp. Theo G. M. Dobrov trong cuốn Khoa học về khoa học, thì ở Liên Xô, không kể một số rất ít trường hợp đặc biệt xuất sắc, trung bình một người có học vị tiến sĩ (kandidat, tương đương PhD) còn phải mất thêm 11 năm vất vả nghiên cứu nữa, mới có thể hoàn thành luận án tiến sĩ khoa học (doktor nauk). Bởi lẽ, luận án tiến sĩ khoa học phải là một bước tiến về chất so với luận án tiến sĩ, phải là một công trình độc đáo trong đó, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu do tác giả đã thực hiện, hình thành các luận điểm khoa học mà tổng hợp lại, có thể xem là một hướng mới trong lĩnh vực khoa học tương ứng, hoặc là một sự tổng kết về lý luận, sự giải quyết một vấn đề lớn của khoa học. Vì vậy, ở Liên Xô trước đây cũng như Liên bang Nga hiện nay, rất ít người có thể bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học trước năm 30 tuổi.
Hệ thống học vị của nhiều nước lắm khi khiến cho những ai không tốn công tìm hiểu, dễ bối rối như lạc vào... "bát quái trận đồ"! Chẳng hạn, ở Pháp trước kia có tới 3 cấp tiến sĩ: tiến sĩ đệ tam cấp, tiến sĩ đại học và tiến sĩ quốc gia (hiện chỉ còn 1 cấp). Ở Đức, Ba Lan, có 2 cấp: tiến sĩ và tiến sĩ habil. Ở Hungary, Bulgaria, Romania, Czech, Slovakia,... cũng có 2 cấp tiến sĩ. Ở Mỹ chỉ có 1 cấp tiến sĩ, viết tắt là PhD và, sau đó, có thể học thêm sau-tiến sĩ (post-doctorate). Ở Liên Xô trước kia và LB Nga hiện nay, có 2 cấp: tiến sĩ (trước dịch là phó tiến sĩ) và tiến sĩ khoa học (trước dịch là tiến sĩ). Đó là chưa kể các học vị ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc trước kia và hiện nay...
Đáng tiếc, hiện nay ở nước ta, không phải không có người vẫn còn lẫn lộn hai học vị khác nhau: tiến sĩ và tiến sĩ khoa học.
Theo lời gợi ý của GS. Logunov, anh Hiệu bắt đầu viết luận án tiến sĩ khoa học ngay trong mấy ngày nghỉ lễ Cách mạng Tháng Mười.
Và rồi, đến ngày 4/5/1964, anh chính thức bảo vệ bản luận án ấy, khi chưa đầy 26 tuổi.
Từ ấy đến nay, 44 năm đã trôi qua, chỉ có một người Việt Nam thứ hai bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học năm 26 tuổi: anh Vũ Kim Tuấn, hiện là Giáo sư Đại học West Georgia, Mỹ.
Buổi bảo vệ luận án qua tường thuật báo chí
Hệ thức tiệm cận các biên độ tán xạ của lý thuyết trường lượng tử định xứ tương đối tính, đó là nhan đề bản luận án tiến sĩ khoa học của Nguyễn Văn Hiệu. Trong bản luận án ấy - như lời nhận xét của GS Markov, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô - "Nguyễn Văn Hiệu đã thiết lập những hệ thức mà, nếu được thực nghiệm xác nhận, thì sẽ xác lập những nguyên lý của lý thuyết trường lượng tử hiện đại".
Về phẩm chất con người của tác giả bản luận án, GS Markov nói: "Chỉ vài tháng sau khi đến Dubna, Nguyễn Văn Hiệu đã trình bày một bản báo cáo khoa học đáng chú ý. Anh dự các xê-mi-na không phải với thái độ thụ động, mà thường đề xuất những giải pháp mới lạ. Anh quan tâm đến hoạt động của tất cả các phòng thí nghiệm của Viện Dubna và được các nhà bác học lỗi lạc, những cộng tác viên của Viện, giúp tìm ra phương hướng trong các lý thuyết hiện đại. Sau bốn năm đến Dubna, anh lần lượt bảo vệ thành công hai bản luận án: tiến sĩ, rồi tiến sĩ khoa học."
Nhà báo Liên Xô Svanev tường thuật buổi bảo vệ luận án của Nguyễn Văn Hiệu: "Chúng tôi đến dự buổi bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học. Hội đồng bác học do VS N. N. Bogolyubov đứng đầu. Trong phòng có mặt nhiều nhà bác học nổi tiếng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa thành viên Viện Dubna.
(...) Sau khi Nguyễn Văn Hiệu trình bày vắn tắt nội dung bản luận án, những người phản biện đã đọc lời nhận xét: I. Ya. Pomeranchuk, O. S. Parasiuk, A. N. Tavkhelidze. Các bản nhận xét đều đánh giá Nguyễn Văn Hiệu là "một nhà bác học lớn", "đầy tài năng", "đạt trình độ cao"...
VS N. N. Bogolyubov, Viện trưởng Viện Dubna, coi bản luận án là "xuất sắc".
Hội đồng bác học bỏ phiếu kín nhất trí tán thành tặng học vị tiến sĩ khoa học cho tác giả."
GS M. A. Markov nói với nhà báo Svanev: "Anh và tôi đang tiếp xúc với một con người xuất chúng. Đôi khi người ta thực sự gặp may trong công việc: Tìm thấy một ý tưởng thiên tài đẫn đến những kết quả quan trọng như tìm thấy một mỏ vàng! Nguyễn Văn Hiệu đi theo một con đường khác. Như người ta thường nói, anh không ngồi chờ khoa học đến bố thí cho mình! Anh đã đạt được những kết quả khoa học khiến mọi người ngạc nhiên bằng cách làm việc rất nhiều, với năng lực lao động rất lớn. Viện Dubna đã tạo môi trường thuận lợi cho anh. Mọi điều còn lại phụ thuộc vào lao động và phẩm chất cá nhân. Anh là một nhà bác học thật lớn. Tôi tin chắc, anh sẽ còn đóng góp được nhiều cho khoa học."
Trong nhiều ngôn ngữ châu Âu, người ta thường dùng từ bác học để chỉ người khám phá ra cái mới, góp phần vào sự phát triển tri thức của nhân loại, và từ học giả để chỉ người đọc nhiều, tích luỹ lắm kiến thức, nhưng không hẳn đã có phát minh, sáng chế gì.
"Tôi không quên - Svanev viết tiếp - phỏng vấn vị tiến sĩ khoa học tân khoa:
- Làm thế nào giải thích được hiện tượng hai thời điểm cách nhau ngắn như vậy, anh có thể bảo vệ được luận án tiến sĩ, rồi luận án tiến sĩ khoa học?
- Thật ra, luận án là điều tôi ít nghĩ đến nhất! Tôi chỉ nghĩ đến công việc. Điều tôi mong muốn nhất là trở nên có ích cho Tổ quốc tôi."
Sự đánh giá cao của các nhà bác học lớn
Tiếp theo bài của Svanev, GS Markov còn tự viết một bài báo khác đăng trên báo ảnh Liên Xô. GS nhận định: "Việc bảo vệ luận án của nhà bác học Việt Nam chưa đầy 26 tuổi là một sự kiện ở Dubna." Ông cho biết: "Các nhà bác học lớn nhất ở Liên Xô đều đến nghe anh."
Thật hiếm thấy một buổi bảo vệ luận án nào thu hút được nhiều nhà bác học cỡ lớn tới dự như buổi bảo vệ của Nguyễn Văn Hiệu hôm ấy. Bởi vì, như lời GS Logunov dự báo, do những kết quả mà anh Hiệu đạt được có ý nghĩa rất cơ bản, và... "đang còn nóng hổi", rất "lý thú"!
Một nhà bác học lớn có mặt hôm ấy là Bruno Pontecorvo. Ông là người gốc Italy, cộng sự gần gũi của Enrico Fermi (Giải thưởng Nobel về vật lý năm 1938). E. Fermi phát minh ra phép thống kê Fermi-Dirac rất nổi tiếng trong vật lý hạt, và là cha đẻ của pin nguyên tử, máy gia tốc. Cộng tác với E. Fermi, B. Pontecorvo gián tiếp tham gia vào việc chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, vì tưởng lầm rằng bọn phát-xít cũng đang chế tạo loại bom đó. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thất vọng trước việc Washington ném hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản, B. Pontecorvo rời Mỹ sang Dubna, nhập quốc tịch Liên Xô, được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, được tặng Giải thưởng Lênin vì khám phá ra một lượng tử mới của neutrino.
Chúng ta có thể nghe nhà bác học lỗi lạc ấy nhận xét về Nguyễn Văn Hiệu: "Có thể tóm tắt đặc điểm khoa học của nhà bác học Việt Nam trẻ tuổi ấy bằng hai từ: tài năng và nghị lực. Song còn có thể thêm một từ thứ ba: năng suất."
Không phải không có người sau khi cầm được tấm bằng tiến sĩ, hay hơn nữa, tiến sĩ khoa học, là mãn nguyện lắm rồi, coi như "công thành danh toại", có thể "ngủ say trên cành nguyệt quế"!
Nguyễn Văn Hiệu không rơi vào tấn bi kịch đó. Ngay sau khi bảo vệ luận án về các hệ thức tiệm cận, anh liền lao ngay vào một lĩnh vực nghiên cứu mới đầy hứa hẹn: Nghiên cứu các tính chất đối xứng cao, thống nhất sự đối xứng nội tại của các hạt cơ bản với tính đối xứng của không-thời gian.
Anh lại bước tiếp tới những "giới hạn mới" về phía chân trời của nhận thức.